Cố tổng thống Ngô Đình Diệm và vấn đề tôn giáo

ngodinhdiem_chapchanhPhạm Hồng Lam

Thời gian qua, truyền thông nói nhiều về một điềm mà tôi nghĩ là đang có những ngộ nhận vì vô tình hoặc cố ý. Đó là quan điểm và thái độ của cố tổng thống Ngô Đình Diệm cũng như của nền Đệ Nhất Cộng Hoà về vấn đề tôn giáo.

  • Ông Ngô Đình Diệm là người kì thị tôn giáo!
  • Chế độ Đệ Nhất Cộng Hoà chủ trương kì thị tôn giáo!

Hai cáo buộc này được cất lên đặc biệt sau ngày đảo chánh 1963 với nhiều âm hưởng: có hằn học và rực lửa hận thù như nơi ông Đỗ Mậu và nhóm Giao Điểm, có khinh khi như nơi nhận định của ông Nguyễn Hiến Lê trong Hồi kí của ông: “Diệm Nhu theo chính sách ba Đ: Đảng (Cần Lao), Đạo (Thiên Chúa), Địa phương (Trung); chỉ công chức nào có được ba yếu tố đó mới được tin dùng”, và cũng có nhẹ nhàng như nơi phát biểu của ông Nguyễn Hữu Hanh, cựu cố vấn kinh tế-tài chánh của TT Ngô Đình Diệm và là cựu Tổng giám đốc Ngân hàng Quốc gia Việt nam 1955-1962: “Ông Diệm là người rất mộ đạo Thiên Chúa, nên ông hay chọn người có đạo Thiên Chúa và ông tin họ hơn những người không có đạo”.

Chữ “kì thị tôn giáo” ở đây, ngoài ý nghĩa ưu đãi người Thiên Chúa giáo như ông Nguyễn Hữu Hanh nói, hầu như chỉ muốn nói lên rằng, ông Diệm và chế độ của ông kì thị Phật giáo! Một số Phật tử và một số người tự nhận là đại diện cho Phật giáo, cũng đã cất lên lời cáo buộc đó và đã tìm mọi cách khai thác nó. Không thấy một lời cáo buộc gia trọng nào từ các tôn giáo khác.

Đệ Nhất Cộng Hoà và chính sách kì thị tôn giáo

Trước hết, chúng ta thử trả lời câu hỏi: Chính quyền nền Đệ Nhất Cộng Hoà thời TT Ngô Đình Diệm có chủ trương kì thị tôn giáo hay không?

Để dẫn chứng cho lập luận có kì thị, người ta thường hay đưa ra hai bằng chứng quan trọng: Đó là Đạo dụ số 10 và cuộc đàn áp và khủng bố Phật giáo, mà cao điểm là trong năm 1963.

Về Đạo dụ số 10

Một số nhà đấu tranh Phật giáo lập luận: Nhà cầm quyền Đệ nhất Cộng hoà đã dùng Dụ số 10 để chèn ép các tôn giáo ngoài Thiên Chúa giáo.

Dụ số 10 do Quốc trưởng Bảo Đại ban hành tháng 8 năm 1950. Thực chất của luật này nhằm quy định sinh hoạt của các Hội đoàn hay Hiệp hội trong nước. Theo đó thì các giáo hội tôn giáo cũng được xem là một loại Hiệp hội. Dụ đặt ra những hạn chế cho các Hiệp hội như sau:

Muốn thành lập, Hội hay Hiệp hội phải xin phép chính phủ (Điều 7). Các Hội mang tính chất tôn giáo không được trợ cấp tài chính của chính quyền. Các Hội chỉ có quyền mua, quản trị, đứng làm sở hữu chủ những bất động sản thật cần thiết cho mục đích hoạt động của Hội mà thôi (Điều 14). Ngoài ra, điều 44 của Dụ viết: Riêng đối với các Hội truyền giáo Thiên Chúa … và các Hội Hoa Kiều Lí Sự sẽ có một chế độ đặc biệt và sẽ được ấn định sau. Nghĩa là những Hội có liên hệ tới người ngoại quốc (ở đây là người Pháp và người Hoa) sẽ có một dụ ấn định sinh hoạt riêng.

Điều 44 chính là nội dung được những nhà đấu tranh trên đây dựa vào để cáo buộc chính quyền thiên vị tôn giáo. Tuy nhiên, vì thiên kiến và có lẽ ác tâm, họ đã không chịu tìm hiểu kĩ hoặc đã cố tính hiểu sai bản văn. Tại sao Dụ số 10 muốn gạt các Hội người ngoại quốc có tính cách tôn giáo hay không có tính cách tôn giáo ra ngoài? Thiếu tướng Trần Tử Oai (Bộ TT) điều trần trước phái đoàn điều tra của Liên Hiệp Quốc năm 1963 như sau: Điều đó “không có nghĩa là (các Hội đó) được hưởng đặc quyền. Trái lại có mục đích giới hạn người ngoại kiều thủ đắc những bất động sản và qua đó bảo tồn độc lập cho xứ sở. Trong thực tế, từ khi ban hành Dụ số 10, chính phủ chỉ áp dụng những điều khoản trong văn kiện ấy đối với những hội tôn giáo hoạt động … xã hội, chẳng hạn như “Phật giáo xã hội‘”. Chính phủ chưa bao giờ dùng Dụ ấy để nhằm mục đích kì thị tôn giáo nào hết”.

Theo Giáo sư Nguyễn Văn Lục (bài LHQ và vụ khủng hoảng Phật giáo 1963), việc sửa đổi Dụ thuộc thẩm quyền của Quốc hội, chứ không thuộc hành pháp. Và đa số dân biểu thời Đệ I Cộng Hoà là Phật tử, vậy mà đã chẳng một ai yêu cầu sửa đổi. Từ 1954 cho tới đầu 1963, Bộ Nội Vụ cũng chẳng nhận được một đơn khiếu nại nào đối với Dụ. Điều đó cho thấy nó đã chẳng tạo ra vấn đề gì và cũng đã chẳng ai quan tâm đến nó. Thực tế, chẳng có ai trong giới lãnh đạo hàng đầu của Phật giáo biết tới Dụ này và cũng chẳng ai viện dẫn nó để nói về kì thị Phật giáo. Cũng cần biết là sau khi Đệ I Cộng Hoà bị lật đổ, trên thực tế pháp lí, Dụ số 10 vẫn tiếp tục tồn tại cho mãi tới ngày 30.04.1975.

Mà thật ra, cho tới năm 1960, Giáo hội công giáo tại Việt Nam còn lệ thuộc Hội truyền giáo Pháp (Mission Étrangère de Paris). Nhưng kể từ ngày 24.11.60 là lúc Toà Thánh Vatican nâng Giáo hội công giáo việt nam lên hàng độc lập, thì Hội truyền giáo Pháp cũng hết vai trò tại Việt Nam. Và như vậy chỉ còn Hội hoa kiều là mục tiêu duy nhất của điều 44 nữa mà thôi.

Đàn áp và khủng bố Phật giáo

Đây là lời cáo buộc gióng lên đặc biệt kể từ sau ba biến cố lớn diễn ra trong năm 1963, đó là vụ nổ tại đài phát thanh Huế ngày 08.05.63 gây cho 8 thanh thiếu niên tử thương, vụ Đại đức Thích Quảng Đức tự thiêu ngày 11.06.63 và cuộc lục soát chùa Xá Lợi của chính quyền đêm 20.08.63.

Các nhà đấu tranh Phật giáo đã nhờ Sri Lanca, một quốc gia Phật giáo, chủ động đưa chuyện “đàn áp Phật giáo tại Việt Nam” ra trước diễn đàn LHQ. Nhân dịp này, vì thiện chí muốn làm sáng tỏ vấn đề, chính phủ VNCH đã mời LHQ gởi phái đoàn tới điều tra tìm hiểu sự việc.

Hạ tuần tháng 10.1963 LHQ gởi phái đoàn gồm 16 thành viên đại diện của 7 quốc gia sang tìm hiểu sự thật. Đó là Afghanistan, trưởng phái đoàn, Ba-tây, Sri Lanca, Costa Rica, Dahomey, Ma-rốc và Nepal. Nepal và Sri Lanca là hai quốc gia phật giáo; các nước trung lập còn lại chẳng có chút thiện cảm gì với VNCH thời đó. Cuộc điều tra kéo dài hai tuần và kết thúc khi TT Ngô Đình Diệm bị đảo chánh.

Phái đoàn đã phỏng vấn nhiều người bao gồm các quan chức VNCH, rất đông các tu sĩ lãnh đạo Phật giáo, một số trí thức, chính trị gia và sinh viên thuộc các nhóm đấu tranh. Phái đoàn cũng đã gặp các nhân chứng đang bị giam cầm cũng như một số người tự nhận mình là nạn nhân trực tiếp của chế độ.

Bản phúc trình của phái đoàn viết: Phái đoàn rất hài lòng cuộc điều tra của mình, vì họ chẳng gặp một hạn chế hay cấm cản nào cả từ phía chính quyền: Họ có thể đi bất cứ nơi đâu họ muốn, có thể gặp và lấy lời khai bất cứ của ai họ muốn. Chính Cabot Lodge, viên đại sứ Hoa-kì vốn không có thiện cảm với TT Ngô Đình Diệm, cũng phải thừa nhận: Chính quyền VNCH đối xử rất đàng hoàng với phái đoàn và để họ tự do gặp mọi người, kể cả các tu sĩ phật giáo đang bị giam giữ.

Bản phúc trình cũng cho hay: Đây là lần đầu tiên LHQ thực hiện một cuộc điều tra tại chỗ về một chính phủ bị tố cáo vi phạm nhân quyền, nhưng không phải là do yêu cầu của LHQ, mà do lời mời của của chính phủ đó.

Phái đoàn điều tra đã tìm gặp được một số nhà sư lãnh đạo Phật giáo và thanh niên Phật tử, mà theo những báo cáo trước đây mà phái đoàn đã nhận được, rằng những người này đã bị chính quyền của TT Diệm giết chết, nay hoá ra đó chỉ là những báo cáo không đúng sự thật.

Phái đoàn đã không tìm thấy bằng chứng nào xác nhận những báo cáo đã được công bố nói rằng, có những nhà sư đã bị ném từ trên các tầng lầu cao xuống đất vào đêm thiết quân luật 20.08.63 khi lực lượng quân đội của chính quyền mở cuộc hành quân lục soát chùa Xá Lợi. Những người khai báo cho phái đoàn biết về vụ này thường là chỉ nghe nói lại và trình bày một cách mơ hồ.

Phái đoàn cũng chẳng tìm thấy dữ kiện cụ thể nào cho thấy chính quyền biệt đãi Thiên Chúa giáo và chèn ép cũng như đàn áp các tôn giáo khác, ngoài một vài trường hợp lẻ tẻ và cá biệt tại một vài địa phương.

Và kết luận của phái đoàn điều tra LHQ: Tổng thống Ngô Đình Diệm và chính quyền của ông không chủ trương chính sách chống Phật giáo vì lí do tôn giáo. Tại Việt Nam hoàn toàn không có chính sách kì thị, áp bức hay khủng bố đối với Phật giáo trên căn bản tôn giáo.

(Muốn biết nội dung của bản điều trần cũng như muốn biết chi tiết lời khai của các nhân chứng, quý vị có thể đọc loạt bài LHQ và vụ khủng hoảng Phật giáo năm 1963 của giáo sư Nguyễn Văn Lục ở địa chỉ: http:// motgoctroi.com/ Diendan/Dd_Chinhtri/ LHQ_VudanapPG.htm )

Tiếc rằng, khi cuộc điều tra vừa xong, thì nền Đệ I Cộng Hoà cũng chấm dứt. Vì thế chẳng còn ai quan tâm tới bản phúc trình của LHQ. Thế giới chẳng ai muốn quan tâm tới một chuyện đã rồi. Chính phủ Hoa-kì thì cố tình không đả động gì tới bản phúc trình khó xử đó, vì họ đã đạt được mục tiêu. Còn các lãnh tụ đấu tranh Phật giáo thì dĩ nhiên cũng làm như bản phúc trình đó không có, vì sứ mạng của họ đã hoàn tất.

Như vậy, lời cáo buộc “Chính phủ VNCH chủ trương kì thị tôn giáo” là vô căn cứ.

Câu hỏi thứ 2: Phải chăng bản thân TT Ngô Đình Diệm là người kì thị tôn giáo?

Chế độ Đệ I Cộng Hoà, dựa trên những dữ kiện thực tế và điều tra của quốc tế, không chủ trương kì thị tôn giáo. Nhưng còn TT Diệm thì sao? Phải chăng bản thân ông là người ưu đãi Thiên Chúa giáo và ghét bỏ các tôn giáo khác? Sau đây là một vài sự kiện

– Về nhân sự:

Thống kê sau đây do tiến sĩ Phạm Văn Lưu đưa ra trong tác phẩm “Biến cố chính trị Việt Nam. Tập I” (Melbourne, Paris, Los Angeles 1994, trang 223-224):

Trong số 18 thành viên Hội Đồng Nội Các năm 1963 có 5 nhân vật theo Thiên Chúa giáo, 8 Phật giáo, 3 Khổng giáo, 1 Cao đài và 1 Hoà hảo. Trong đó những người Phật giáo lại giữ những chức vụ quan trọng nhất như Phó TT kiêm Tổng trưởng Kinh tế Nguyễn Ngọc Thơ, Tổng trưởng Ngoại giao Vũ Văn Mẫu, Tổng trưởng Tư pháp Nguyễn Văn Lượng, Tổng trưởng Tài chánh Nguyễn Lương, Phụ tá Tổng trưởng Quốc phòng Nguyễn Đình Thuần. Thêm vào đó, Tổng thư kí Văn phòng đặc biệt của Phủ tổng thống là Võ Văn Hải, Giám đốc Nha báo chí Phủ TT: Tôn Thất Thiện, Giám đốc Nội dịch Phủ TT: Tôn Thất Thuyết… tất cả đều là Phật tử.

Ngoài ra, Đổng lí văn phòng Quách Tòng Đức, Phó đổng lý: Đoàn Thêm, Bí thư: Trần Sử (người giữ Sổ Tay của Tổng thống) cũng như sĩ quan tuỳ viên thân tín nhất của TT Diệm: Đại uý Đỗ Thọ – tất cả đều là Phật tử.

Trong số 19 tướng trong năm 1963 có 4 là Thiên chúa giáo, còn lại là Phật giáo và các tôn giáo khác. Và các chức vụ quan trọng khác cũng thuộc các tướng phật giáo: Tổng tham mưu trưởng: Đại tướng Lê Văn Tị, Quyền TTMT: Trung tướng Trần Văn Đôn, Tổng trấn Sàigòn-Gia định: Thiếu tướng Tôn Thất Đính, Giám đốc Nha an ninh quân đội: Đại tá Đỗ Mậu, Tư lệnh Nhảy dù: Cao Văn Viên, Tư lệnh Hải quân: Đại tá Hồ Tấn Quyền. Và trong bốn tướng tư lệnh các vùng chiến thuật chỉ có Huỳnh Văn Cao là Công giáo, còn lại là Phật giáo. Riêng Tôn Thất Đính được bố trí tư lệnh Quân khu quan trọng nhất: Quân khu thủ đô. Và cũng nhờ đó mà quân đảo chánh đã có cơ hội thành công.

Cựu Tổng thống Hoa-kỳ, Richard Nixon trong cuốn hồi ký của ông No More Vietnams (New York 1985) cũng đưa ra những thống kê như vậy. Ngoài ra, ông còn cho hay: Trong 38 Tỉnh trưởng có 12 Công giáo và 26 Phật hoặc Khổng giáo.

Trả lời trước phái đoàn điều tra LHQ, ông Ngô Đình Nhu cho hay: ¾ tổng số công chức của VNCH là Phật tử.

Nếu là người ngờ vực hay ghét bỏ Phật giáo, thì tại sao TT Diệm lại có một chính sách nhân sự nguy hiểm cho ông và bất lợi cho chế độ đến như thế?

– Về việc xây dựng cơ sở Phật giáo:

Theo báo cáo của Thiếu Tướng Trần Tử Oai trước phái đoàn LHQ, dưới thới Đệ I Cộng hoà đã có thêm 1275 ngôi chùa mới xây trên tổng số 4766 chùa.

Tác giả Nguyễn Văn Minh trong tác phẩm Dòng họ Ngô Đình. Ước mơ chưa đạt (tái bản lần 4, 2004, trang 137-155) viết: Năm 1958, TT Diệm đã giúp thêm một số tiền 2 triệu đồng để xây chùa Xá Lợi hầu có chỗ cho việc nghiên cứu Phật học. Số tiền này đã được ông Hoàng Quang Chính (tị nạn tại Hoa-kì), chánh văn phòng sở Nghiên cứu Chính trị Xã hội trực thuộc Phủ tổng thống trao cho ông Mai Thọ Truyền là người chủ trì việc xây chùa.

Chùa Vĩnh Nghiêm đã được xây trên thửa đất một mẫu tây của Bộ Tài chánh, mà TT Diệm đã tự quyết định nhượng lại cho Thượng toạ Thích Tâm Giác và mẹ vợ của phật tử Huỳnh Văn Lang với giá tượng trưng 1 đồng bạc (sự kiện do chính ông Huỳnh Văn Lang kể lại trong Hồi kí của ông).

Còn ở Huế, với sự tích cực giúp đỡ về tài chánh, dụng cụ và vật liệu xây dựng của ông Ngô Đình Cẩn, rất nhiều cơ sở Phật giáo đã được sửa sang, trùng tu. Người gần gũi với ông Cẩn và được hưởng nhiều giúp đỡ nhất của ông không ai khác hơn Thượng toạ Thích Trí Quang, trụ trì chùa Từ Đàm. Chính đơn xin lập „Hội Phật giáo thống nhất” do ông và Thượng toạ Thiện Minh đứng tên cũng đã được TT Diệm nhanh chóng chấp nhận, trong khi Bộ Nội vụ còn chần chừ nghi ngại. Và sau khi đã có Giáo hội thống nhất, TT Diệm đã khuyến khích và cung cấp tài chánh cho các tăng sĩ đi du học, để nâng cao trình độ của Phật giáo nói chung; một trong số những du sinh đó là Hoà thượng Thích Quảng Liên.

Ngoài ra, theo lời kể của cựu Nghị sĩ Lê Châu Lộc, lúc đó là sĩ quan tuỳ viên bên cạnh Tổng thống, được tác giả Nguyễn Văn Minh trích lại, thì ông Diệm đã ưu ái tặng cho Đức Đạt-lai Đạt-ma một số tiền (10 hay 15 ngàn mĩ-kim?). Số tiền này được nói là tiền thưởng từ giải Magsaysay năm 1959 (một loại giải Nobel hoà bình ở Á châu, mang tên một vị Tổng thống Phi-luật-tân). Điểm này cần phải tìm hiểu thêm, vì trong danh sách các khôi nguyên giải Magsaysay năm 1959 và những năm gần đó không thấy có tên TT Ngô Đình Diệm (năm 1959 trái lại có tên của ngài Đạt-lai Lạt-ma được giải). Như vậy, việc TT Diệm tặng tiền cho vị lãnh đạo Phật giáo Tây-tạng là có, nhưng tặng bao nhiêu và số tiền ấy từ đâu ra vẫn chưa rõ.

Còn ưu đãi Công giáo? Cựu trung tá Phạm Xuân Ninh tức nhà thơ Hà Thượng Nhân, nguyên là Tổng giám đốc hệ thống truyền thanh quốc gia, kể lại một việc liên quan tới chính ông. Một hôm, một linh mục tới gặp ông yêu cầu được chuyển giờ phát thanh “Tiếng nói Công giáo” lên tần số A là tần số quốc gia. Ông từ chối, vì sợ rằng như vậy sẽ rất khó xử, vì các tôn giáo khác cũng có thể sẽ yêu cầu như thế. Mà đã cho Công giáo thì không thể không cho các tôn giáo khác. Vị linh mục này đã đạo đạt yêu cầu lên Tổng thống. Ông Diệm đồng í, vì nghĩ rằng làm chuyện Đạo là điều tốt, và yêu cầu Bộ Nội vụ lệnh xuống cho Giám đốc Đài phát thanh thi hành. Trung tá Ninh đã lên gặp Tổng thống, thẳng thắn trình bày điều hơn lẽ thiệt. Sau khi nghe, ông Diệm chợt tỉnh và nói với ông Tổng Giám Đốc: “Anh về bàn lại với các cha. Đừng quá sốt sắng về việc Đạo mà xảy ra chuyện kì thị tôn giáo”.

Cũng theo tác giả Nguyễn Văn Minh, tháng 11.1959 chính phủ ra Dụ 57/4 buộc phải xin phép, nếu ai muốn mở tường tư thục và chương trình học phải đặt dưới sự kiểm soát của chính phủ. Đây là một cú xốc lớn cho Giáo hội công giáo, vì từ xưa tới nay Giáo hội vốn được tự do mở trường chủng viện và tự đặt ra chương trình huấn luyện. Dụ 57/4 bị các giám mục công giáo chống đối dữ dội. Giám mục Ngô Đình Thục tuyên bố, đó là một luật vi phạm tự do tôn giáo! Nhưng cuối cùng, Giáo hội đã phải chấp nhận, vì Giáo hội không thể đứng ngoài và trên phép nước được.

Những mẩu chuyện như trên đây còn nhiều. Nhưng vì khuôn khổ bài viết, không thể ghi ra thêm. Tuy là những sự kiện hoặc mẩu chuyện nho nhỏ, nhưng chúng chứng tỏ một điều: TT Ngô Đình Diệm là người không thiên vị tôn giáo, không kì thị tôn giáo, đặc biệt đã không chủ trương chèn ép hay đàn áp Phật giáo.

Tắt lại, những cáo buộc kì thị tôn giáo hay đàn áp Phật giáo trên đây rất chủ quan, nếu không nói đó chỉ là những huyền thoại. Những huyền thoại đã được dựng lên vì mặc cảm tâm lí hoặc bị một số người khai thác để phục vụ cho những mục tiêu chính trị. Mặc cảm tâm lí và những mưu đồ chính trị giờ đây đã và đang lui vào dĩ vãng. Nhưng tiếc rằng, những huyền thoại kia vẫn chưa được xoá đi trong sách vở và rải rác trên các trang mạng. Chúng như những nọc độc tiếp tục gây chia rẽ các thành phần dân tộc và tác hại trên các thế hệ tuổi trẻ.

TT Ngô Đình Diệm là người í thức được giá trị của các tôn giáo trong việc thăng tiến con người và phục hưng Đất Nước. Ông tôn trọng mọi tôn giáo đứng đắn. Ông là người mộ đạo và rất kính trọng giới giáo sĩ, nên có thể đã có những lợi dụng hay lạm dụng từ phía các giới chức tôn giáo, đặc biệt từ các giáo sĩ Công giáo. Câu chuyện của Trung tá Ninh trên đây cho thấy, có thể vì tình cảm đạo đức mà TT Diệm đã có những dễ dãi trong các quyết định ở cấp thấp; nhưng ông là người biết lắng nghe. Tiếc rằng xã hội chúng ta thời đó có quá ít những người cương trực như Trung tá Ninh. Và trong thực tế, rải rác nơi nhiều địa phương thời Đệ I Cộng Hoà đã có những lộng quyền hay những chọn lựa thiên vị liên quan tới tôn giáo. Đây là điều đáng tiếc, chúng khó tránh được trong mọi chế độ ở mọi thời. Nhưng trước sau, TT Diệm là người không chủ trương kỳ thị và không thiên vị tôn giáo. Ông biết vượt lên trên tôn giáo để đến với Đất Nước và Dân Tộc. Đối với ông, Đất Nước và Dân Tộc việt nam mới là trên hết.

Vì thế, ông mới có thể an nhiên trả lời đại sứ Cabot Lodge, khi ông này đề nghị ông ra đi khỏi nước, lúc đảo chánh vừa nổ ra: “Cám ơn Ông. Tôi không bỏ được Dân Tộc tôi”.

Hay như câu trả lời với Linh mục Tam, khi vị này, trong giờ phút nguy kịch nhất, đề nghị ông và bào huynh đừng quay lại với nhóm đảo chánh: “Xin cám ơn Cha. Tôi không có tội gì với Dân Tộc và Quốc Gia này, tôi thấy không có lý do gì phải lẫn tránh”.

Chỉ có người có một niềm tin tôn giáo mãnh liệt mới coi nhẹ sự nguy nan – và cả cái chết – đến như thế!

Chỉ có người biết đặt Đất Nước và Dân tộc lên trên hết mới vững tin và nói được những câu quyết liệt như thế!

Augsburg, 18.10.2013

Lưu lại ý kiến đóng góp - phản hồi vào ô dưới đây:

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s