Tổ quốc nào? Lá Cờ nào?

Nguyễn Hội

Gần đây có nhiều tranh cãi về lá Cờ Tổ quốc. Người viết xin được góp ý từ đúc kết một số tài liệu thu nhận được.  Đầu tiên chúng ta cùng nhau giải thích ý nghĩa của Tổ quốc, sau đó đến phần so sánh những khác biệt giữa Tổ quốc XHCN, Tổ quốc Việt Nam cùng lá Cờ tiêu biểu.

Định nghĩa Tổ quốc

Tổ có nghĩa là Tổ tiên Quốc là Đất nước. Tổ quốc có nghĩa là Đất nước của Tổ tiên  truyền lại. Tổ quốc tiếng Anh là Fatherland, tiếng Đức là Vaterland, dịch ngyên văn ra tiếng Việt là Đất nước của Cha. http://vi.wiktionary.org/ giải thíchTổ quốc là „Đất nước, được bao đời trước xây dựng và để lại, trong quan hệ với những người dân có tình cảm gắn bó với nó.“. Tình cảm với Tổ quốc  xuất phát từ mối liên hệ chủng tộc, họ hàng, bạn bè, láng giềng, người quen cùng kỷ niệm gắn bó.. Tình cảm với Tổ quốc, thường được gọi là tình yêu nước hay lòng ái quốc do đó không thể thiếu được ở một con người. Nó chẳng khác gì tình yêu cha mẹ, con, cháu, anh chị em, tình yêu lứa đôi, tình yêu vợ chồng, tình bè bạn.

Cụm từ „Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa“ được xuất hiện sau khi Đảng Cộng sản giành được chính quyền. Tổ quốc này được Trung tướng GS, TS Nguyễn Tiến Bình giải thích như sau „Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười đã dẫn đến sự ra đời của Tổ quốc XHCN – một Tổ quốc kiểu mới trong lịch sử nhân loại được đặc trưng bởi chế độ xã hội XHCN, trong đó giai cấp công nhân và nhân dân lao động làm chủ xã hội đồng thời làm chủ Tổ quốc.[1]“

Tổ quốc Xã Hội Chủ Nghĩa

Người Cộng sản chủ trương „muốn xây dựng Chủ nghĩa Xã hội phải có con người Xã hội chủ nghĩa“  nên họ đã khởi đầu công cuộc xây dựng con người XHCN tại miền Bắc bằng cuộc cải cách ruộng đất nhằm sự phá hủy mối quan hệ giữa con người với nhau trong xã hội Việt Nam đã được gầy dựng và duy trì qua nhiều đời bởi gia đình, gia tộc, bè bạn, láng giềng, xã hôi. Họ khuyến khích Cha, Mẹ, con cái, họ hàng, láng giềng, bè bạn tố cáo lẫn nhau với chính quyền và trước công chúng. Tổng bí thư Đảng Cộng sản thời bấy giờ là Trường Chinh (Đặng Xuân Khu) đã nêu gương đi đầu qua cuộc đấu tố chính Cha Mẹ ruột của mình tại Nam Định. Nền đạo đức mới, đạo đức giai cấp vô sản trên căn bản chủ nghĩa Marx, Lênin được đặt trên nền tảng bạo lực qui định lại mối quan hệ con người trong xã hội:

Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ

Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong,

Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng

Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin…bất diệt.[2]

Xuân Diệu có lời lẽ nhẹ nhàng hơn nhưng cũng không kém tính sát máu:

 Địa hào đối lập ra tro

Lưng chừng phản động đến giờ tan xương

Thắp đuốc cho sáng khắp đường,

Thắp đưốc cho sáng đình làng đêm nay.

 Lôi cổ bọn nó ra đây

Bắt quỳ gục xuống, đọa đày chết thôi.[3]

Lời thơ Xuân Diệu đã bị nền văn hoá XHCN thay đổi hoàn toàn, còn đâu những vần thơ mà lứa tuổi „tập tành yêu“ bắt buộc phải thuộc làu và cho đến nay vẫn không thể nào quên được:

Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm,

Anh nhớ em, em hỡi ! Anh nhớ em .

Không gì buồn bằng những buổi chiều êm,

Mà ánh sáng đều hòa cùng bóng tối 2  …

Giám Mục phó giáo phận Hà Nội, Lê Đắc Trọng đã mô tả cuộc đấu tố trong thời kỳ cải cách ruộng đất tại miền Bắc trong tập hồi ký của Ngài như sau:

“… Vào phòng họp, đội dõng dạc tuyên bố: ‘Bà con nông dân đề cao cảnh giác, vì địch nó ngồi ở đằng sau ta…’.  Người ngồi sau run sợ…! Một lúc nữa, đội lại nói: ‘Bà con cảnh giác, địch nó ngồi ngay trước mặt ta‘. Ngồi trước ngồi sau đều là địch cả. Không còn biết chọn chỗ nào nên ngồi?  Sợ sệt và sợ sệt…!

Ai nấy ngồi yên chỗ, bắt đầu cuộc ‘đấu tố’. Tố cáo tội ác giai cấp bóc lột, đấu tranh đánh đổ giai cấp bóc lột đó. Mọi người bắt đầu cuộc kể khổ, để tố cáo tội ác của bọn địa chủ cường hào ác bá. Những tội ác được bịa đặt ra nhiều hơn và nặng nề hơn sự thật.

Người nông dân thật thà chất phác, mấy ai nghĩ ra được cách tố cáo, tất cả đã được dậy bảo, được Đội ‘mớm’ cho trước…

Thế rồi đấu, đấu tranh với địa chủ, thì phải có khí thế, chưa quen thì phải tập. Chưa có ai xuất hiện để mà đấu, thì có thể dùng cái cột nhà thay thế. Bà con và nhất là các phụ nữ. Giơ tay xỉa xói vào cái cột nhà: ‘Mày đã cướp của tao, mày đã đốt nhà tao, mày đã đánh đập tao thật tàn bạo, tao khó nhọc làm giầu cho mày, mà mày cho tao ăn đói ăn khát…. Tất cả phải được nhuần nhuyễn, từ cử chỉ đến lời nói, để khi gặp ‘người thật’ không ngượng ngùng ái ngại.

Đến nỗi mà một người phụ nữ đứng tuổi, rất thương người cha già chị săn sóc hằng ngày. Chị nói với bố: ‘Ông có biết tôi là ai không?’. Người cha ngậm ngùi nhìn đứa con dứt ruột của mình và nói:: ‘Thưa bà, con là người đẻ ra bà ạ’. Lời thưa não nùng thảm thương, nhưng phải hỏi cái sức ma quỉ nào đó đã thúc đẩy người con chất vấn người bố như thế? Cứ đó mà luận ra những người khởi xướng!” [4]

Không chỉ người lớn bị „mớm“ cách xử thế mới của nền đạo lý XHCN mà ngay cả con trẻ chưa tập nói cũng được  bị ép buộc phương cách giáo dục lạ lùng ngoại lai kiểu mới:

Sta-lin ! Sta-lin !

Yêu biết mấy, nghe con tập nói

Tiếng đầu lòng con gọi Sta-lin ![5]

Các nhà giáo dục cho rằng kiến thức và kinh nghiệm thu thập trong thời niên thiếu là nền tảng cho sự phát triển của một con người. Vì tuổi niên thiếu  là lứa tuổi con người chập chững bước vào ngưỡng cửa cuộc đời, hồn nhiên, mang và xây đắp  nhiều mộng ước cho cuộc sống mai sau. Những ước mơ này sẽ là hành trang mang vào đời và niềm hạnh phúc nhất của đời người là thực hiện được những ước mơ được vun đắp từ thời niên thiếu. Dưới chế độ XHCN người thiếu niên được giáo dục mơ ước bạo lực, chiến tranh và căm thù:

Tuổi mười bốn những ước ao

Buổi đầu cầm súng biết bao là mừng

Mẹ ơi súng đẹp quá chừng4

Yêu thương là nền tảng hun đúc lên con người. Là trẻ con, các cháu được nuôi dưỡng bằng tình yêu thương của cha me, ông bà, anh chị, bè bạn. Qua thời niên thiếu, thanh niên, thanh nữ bước vào tình yêu đôi lứa rồi tiến đến tình yêu hôn nhân. Nhưng nền đạo lý XHCN buộc con người phải thay đổi định giá của tình yêu:

Ông Sta-lin ơi ! Ông Sta-lin ơi !

Hỡi ơi Ông mất ! Đất trời có không ?

Thương cha thương mẹ thương chồng

Thương mình thương một thương Ông thương mười.4

XHCN không chỉ làm  thay đổi mối quan hệ giữa người với người trong xã hội mà còn phá hủy đi các di tích lịch sử của Tổ tiên bao đời để lại. GS Nguyễn Huệ Chi đã cho biết trong cuộc phỏng vấn của bà Thụy Khuê như sau:

„Trong mấy chục năm đi điền dã để làm bộ Thơ văn Lý-Trần, chúng tôi đã thấy không biết bao nhiêu di tích bị phá một cách vô tội vạ, mà cái người chủ trương tàn phá, phải nói, hoặc là, biểu hiện của một thứ cực đoan không thể chấp nhận được; hoặc nữa là, có một sự thù hằn gì ghê gớm đối với lịch sử, hay cũng có thể là một tâm lý hách dịch đối với lịch sử. Cho nên họ đã đập phá tàn bạo, chẳng hạn như di tích nơi vua Trần Nhân Tông tịch ở am Ngọa Vân phía Tây núi Yên Tử (một ông vua anh hùng khoáng đạt như thế có tội tình gì để họ phá cho tan tành? Hay vì đã không “cực quyền” như họ?). Lại chẳng hạn như việc phá đình phá chùa trong chủ trương “hợp tự” năm 1948, đã làm mất đi bao nhiêu di tích văn hóa quý giá có từ lâu đời ở Nghệ-Tĩnh (cứ đối chiếu với cuốn sách Le vieux An-Tĩnh của một người Pháp tên là Le Breton ghi chép và chụp lại những di tích của xứ Nghệ trong những năm 30 thì biết rõ ngày nay cái nào mất cái nào còn hoặc hình thù của chúng đã bị biến dạng đến thế nào). Ấy thế mà việc đó lại được lặp lại với quy mô rộng rãi hơn rất nhiều ở hầu khắp miền Bắc trong những năm 60 thế kỷ XX. Tôi còn nhớ là vào ngày 9 tháng 5 năm 1966, tôi đến thăm cụ Lê Thước, một học giả nổi tiếng sống ở gần chợ Hôm, thì gặp lúc nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Bá Khoản cũng đến và ông ấy đã trình bày với cụ việc một ngôi đền thờ nữ tướng của Hai Bà Trưng ở Mai Động (tức là sát ngay Hà Nội, bây giờ đã thuộc về nội thành) đã bị Đảng bộ địa phương chỉ đạo đem hoành phi câu đối và cỗ kiệu ra đóng bàn ghế và xe phân cho hợp tác xã. Ông Nguyễn Bá Khoản đã chụp trộm được mấy tấm ảnh và suýt nữa thì bị dân quân tự vệ bắt và tịch thu máy ảnh. Khi ông ấy đã chạy thoát rồi vẫn còn nghe vẳng đến lời ông Bí thư Đảng ủy: “Hãy bắt gông nó lại, tội vạ gì tôi chịu hết”. Ông Nguyễn Bá Khoản đã kể lại với tất cả cái thảng thốt và cái bất bình của mình. Tối hôm ấy, tôi có ghi vào nhật ký như sau: “Có thể có một thứ duy vật cuồng tín hoành hành trên đất nước ta đến thế hay sao?”[6] 

Đề cương văn hoá do chính TBT Đảng Trường Chinh biên soạn năm 1943 xác định những sự kiện xảy ra được nêu trên đây thuộc về chính sách của Đảng, nhằm dẫn nhập một nền văn hoá mới vào Việt Nam „nền văn hóa mà cuộc cách mạng văn hóa Đông-dương phải thực hiện sẽ là văn hóa xã hội chủ nghĩa.“. Để sự việc dẫn nhập văn hoá XHCN  được thành công, bước đầu tiên là phải xoá bỏ những tư tưởng đã ăn sâu và đã trở thành đạo lý của xã hội Việt Nam:

a) Tranh đấu về học thuyết, tư tưởng (đánh tan những quan niệm sai lầm của triết học Âu, á, có ít nhiều ảnh hưởng tai hại ở ta: triết học Khổng, Mạnh, Đềcác (Descartes), Bécsông (Bergson), Cǎng (Kant), Nítsơ (Niesche), v.v. ; làm cho thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử thắng.

b) Tranh đấu về tông phái vǎn nghệ (chống chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa tượng trưng, v.v.) làm cho xu hướng tả thực xã hội chủ nghĩa thắng.[7]

Lá cờ biểu tượng cho Tổ quốc XHCN và ý nghĩa

Biểu tượng cho Tổ quốc XHCN là lá cờ đỏ sao vàng. Lá cờ này ban đầu là hiệu kỳ của Việt Nam Độc lập Đồng minh, sau này trở thành quốc kỳ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và CHXHCN Việt Nam. Theo Tướng Võ Nguyên Giáp, hiệu kỳ này do Hồ Chí Minh mang về từ nước ngoài và được chính thức treo lần đầu tiên vào ngày “19/5/1941, lá cờ được treo giữa hang Pắc Bó, khai mạc Hội nghị thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội“ 8

Trong cuộc họp Quốc hội khóa I, các đại biểu của Việt quốc và Việt cách tỏ ý muốn thay đổi lá cờ Đỏ sao vàng vì lá cờ này mang sắc thái cờ Đảng cộng sản quốc tế chứ không mang tính chất Quốc gia Việt Nam thì ông Hồ Chí Minh nói: “Lá cờ đỏ sao vàng đã thấm máu đồng bào ta trong Nam Kỳ khởi nghĩa 1940. Chính lá cờ này đã cùng phái đoàn Chính phủ đi từ châu Á sang châu Âu, từ châu Âu về châu Á; cờ đã có mặt trên khắp đất nước Việt Nam. Vậy thì trừ 25 triệu đồng bào, còn không ai có quyền thay đổi quốc kỳ và quốc ca“.[8]

Ý nghĩa của lá Cờ Đỏ Sao Vàng được giải thích trên Wikipedia như sau:

„nền đỏ tượng trưng cho cách mạng, màu vàng là màu truyền thống tượng trưng cho dân tộc Việt Nam, và năm cánh sao tượng trưng cho năm tầng lớp sĩ,nông, công, thương, binh cùng đoàn kết. Tuy nhiên, cũng có ý kiến khác cho rằng màu đỏ nền cờ tượng trưng dòng máu đỏ, màu vàng ngôi sao tượng trưng da vàng, và năm cánh tượng trưng cho sự đoàn kết các tầng lớp bao gồm sĩ, nông, công, thương,binh trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.“[9]

Trên thực tế, cờ các nước Cộng sản thường mầu đỏ và có sao vàng hoặc búa liềm. Wikipedia phân tích cờ các nước Cộng sàn trước kia và cho biết cờ các nước Cộng sản thường có những biểu tượng sau đây của lá cờ Liên Xô:

–       Nền cờ mang mầu đỏ

–       Ngôi sao vàng trên nền đỏ, hoặc ngược lại là ngôi sao đỏ

–       Búa và liềm

Lá cờ Liên sô (cho tới năm 1991) được trang tự điển các lá cờ giải thích như sau:

„Cây búa thể hiện cho công nhân (giai cấp vô sản), cái liềm thể hiện cho nông dân, ngôi sao cho sự thống nhất của mọi người dân của tất cả các quốc gia trên năm lục địa cùng đeo đuổi chủ nghĩa cộng sản.

Tất cả các lá cờ đỏ cộng sản trên thế giới có nguồn gốc từ lá cờ đỏ được sử dụng trong cuộc Cách mạng Pháp năm 1789 và Công xã Paris 1870/1871. Nguồn gốc chính là từ những lá cờ máu của tòa án máu thời trung cổ.“[10]

 

Cờ Liên sô

Cờ quyết thắng của Hồng quân Liên sô (Nguồn: Wikipedia)

Tổ quốc Việt Nam

Theo các nhà khảo cổ, trên mảnh đất Việt Nam loài người đã sinh sống từ thời đồ đá cũ, tức là hàng vạn năm trước công nguyên. Chính quyền đầu tiên được hình thành  tại Việt Nam vào các thời kỳ Hồng Bàng  (2879 TCN), nghĩa là trước đây gần 5000 năm.

Ngay từ buổi đầu lập Quốc, xã hội Việt Nam được gầy dựng trên căn bản làng xã. Gia đình, gia tộc là đơn vị căn bản có trách nhiệm rèn luyện, giáo dục thành viên của xã hội, luôn đóng vai trò quan trong trong cơ cấu làng xã, cơ cấu xã hội. Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình cũng như trong làng xã được qui định và luôn được duy trì tốt đẹp:

„Cả trong ngoài cùng là đàn cháu,

Xem như con yêu dấu chẳng sai,

Đồng quà, tấm bánh hôm mai,

Chớ điều dằn vật, chớ lời gieo đanh.

Từ họ mạc, láng giềng, hàng xóm,

Cũng ở cho trong ấm ngoài êm,

Tiếng chào, tiếng hỏi cho mềm,

Chẳng khinh ai cũng chẳng hiềm oán ai.”9

Người Việt Nam luôn hiếu hoà nhưng lại rất kiên cường, không chịu khuất phục kẻ thù cho dù chúng rất lớn mạnh và hung tàn. Tính chất này đã được lịch sử chứng minh qua Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Hội Nghị Diên Hồng, Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Lý Thường Kiệt, Nguyễn Huệ, Lê Lợi vv… Mỗi lần đánh đuổi được giặc, Tổ tiên chúng ta đều cho Sứ thần sang triều cống Bắc triều nhằm bày tỏ thiện chí hiếu hoà. Nền văn hoá Dân tộc Việt Nam là một nền văn hoá thuần lương,  hướng thiện, dựa hoàn toàn trên nền tảng Nhân Nghĩa. Một nền văn hoá dậy con người biết yêu thương con người, nhận biết được điều phải, điều trái và luôn hành động vì lẽ phải, hành động vì con người và cho con người:

“Lấy điều ăn ở dạy con,

Dẫu mà gặp tiết nước non chuyền vần.

Ở cho có đức có nhân,

Mới mong đời trị được ăn lộc trời.

Thương người như thể thương thân,

Ở lòng nhân nghĩa cho đầy mới khôn.”[11]

Nhân Nghĩa không những chỉ để dậy con cháu, cư xử trong đời sống xã hội, Tổ tiên chúng ta còn khuyên dậy là dùng Nhân Nghĩa để chinh phục hung tàn và thay thế cho bạo cường nhằm giúp đỡ những kẻ gian ác tìm về được nẻo chính:

“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,

Lấy chí nhân để thay cường bạo.”[12]

Yêu thương không chỉ được dậy dỗ khi con trẻ đã lớn mà ngay khi chúng còn nằm trong nôi. Do đó người Việt Nam rất gắn bó với gia đình, gia tộc. Từ tình yêu căn bản này người dân nước Việt được hun đúc và hành xử trên căn bản Nhân và Nghĩa:

À …á…à… ơi !

Con cò đi đón cơn mưa

Tối tăm mù mịt ai đưa cò về

Cò về thăm quán thăm quê

Thăm cha thăm mẹ, cò về thăm em.

À…á…à…ơi!

Lá cờ tiêu biểu cho Tổ quốc Việt Nam

Tự điển Wikipedia giải thích ý nghĩa của lá Cờ trong các triều đại Hoàng Đế Việt Nam như sau:

Tại Việt Nam trước đây các nhà cầm quyền đã có các hiệu kỳ thường mang màu phù hợp với “mạng” theo ngũ hành : người mạngkim thì cờ màu trắng, người mạng mộc mang màu xanh, mạng thủy thì màu đen, người mạng hỏa treo cờ màu đỏ, người mạng thổdùng cờ màu vàng. Màu cờ của các triều đại thì được chọn theo thuyết của học phái Âm Dương Gia nhằm giúp triều đại hợp với một hành đang hưng vượng. Ngoài cờ của triều đại, các nhà vua đều có thể có lá cờ riêng, chỉ để biểu tượng cho hoàng gia.[13]

Đại Nam Quốc Sử diễn ca cho biết, trong thời Bắc thuộc Bà Triệu đã dùng cờ Vàng chống lại quân phương Bắc:

“Đầu voi phất ngọn cờ vàng,

Sơn thôn mấy cõi chiến trường xông pha.

Chông gai một cuộc quan hà ,

Dù khi chiến tử còn là hiển linh.[14]

Lịch sử Trung Quốc đã tìm mọi cách bôi nhọ Bà Triệu. Sách Giao Chỉ ghi:

“Trong núi ở quận Cửu Chân có người con gái họ Triệu, vú dài ba thước, không lấy chồng, họp đảng cướp bóc các quận, huyện, thường mặc áo ngắn màu vàng, chân đi giày mũi cong, ngồi đầu voi mà chiến đấu, sau chết làm thần” [15]

Từ khi giành được quyền tự chủ sau thời kỳ Bắc thuộc, các vương triều nhà Ngô, nhà Đinh, nhà Tiền Lê, nhà Lý, nhà Trần, nhà Hồ, nhà Hậu Lê đều dùng hiệu kỳ màu vàng. Vua Gia Long (1802-1820) cũng dùng màu vàng cho là cờ tiêu biểu của vương triều mình.[16]

Kết luận

Những điều nêu trên cho thấy tính chất của Tổ Quốc Việt Nam và của Tổ quốc Xã hội Chủ nghĩa hoàn toàn khác biệt. Tổ quốc Việt Nam được gầy dựng trên nền tảng đạo lý của Tổ tiên chúng ta là Nhân Nghĩa. Tổ quốc XHCN được xây dựng bằng chủ Nghĩa Marx-Lênin, mang tính chất đấu tranh sát máu và vô thần. Tiêu biểu cho Tổ quốc XHCN Việt Nam là cờ Đỏ Sao Vàng. Tiêu biểu cho Tổ quốc Việt Nam là Cờ nền Vàng. Lá cờ nền Vàng của Dân tộc Việt Nam thay đổi qua nhiều thời kỳ. Năm 1948 vị Vua cuối cùng của Việt Nam là Bảo Đại (lúc đó là Quốc trưởng) cho thiết lập lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ vừa mang tính chất cổ truyền của bao thời đại để lại là nền Vàng, sọc Đỏ, vừa mang tính chất thực tại là nước Việt Nam bị thực dân phân chia ra làm ba miền để chúng dễ cai trị.

Lá cờ Vàng do đó không phải tiêu biểu riêng cho Viêt Nam Cộng Hoà (VNCH) mà chính là di sản của Tiền nhân chúng ta để lại mà mọi con dân Việt phải có trách nhiệm yêu mến và bảo vệ.

Cờ Vàng còn thì còn Dân Tộc Việt! Đó là lý do tại sao nhà cầm quyền tay sai Tàu hiện nay tìm mọi cách tiêu diệt lá Cờ Vàng.

Có thể trong quá khứ có nhiều con dân nước Việt vì lý do này hay lý do khác chống lại chính phủ  Viêt Nam Cộng Hoà. Chống lại chính phủ VNCH không đồng nghĩa là chống lại lá Cờ Vàng. Hành động chống lại di sản của Tiền Nhân chúng ta đã bao đời đổ máu đánh đuổi ngoại xâm, trong đó có giặc Tàu tức là chống lại Dân Tộc Việt Nam.

Nguyễn Hội

Tháng 12 năm 2012


[1] Nguyễn Tiến Bình: Cách mạng Tháng Mười và một số vấn đề chiến lược bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa,  http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=18587&print=true

[2] Trên mạng Internet cho là thơ của Tố Hữu.

[3] Thơ Xuân Diệu

[4] Giám mục Ngô Đắc Trọng: Chứng từ của một Giám mục, trang 381-382

[5] Thơ Tố Hữu

[6] Thụy Khuê trò chuyện với giáo sư Nguyễn Huệ Chi vào tháng 7 năm 2005: Về tình trạng nghiên cứu văn học tại miền Bắc những năm 60

[7] Trường Chinh: Đề Cương về Văn hóa Việt-nam (1943)

[8] Theo Wikipedia

[9] Theo Wikipedia

[11] Nguyễn Trãi: Gia Huấn Ca

[12] Nguyễn Trãi: Bình Ngô Đại Cáo

[14] Đại Nam Quốc Sử diễn ca

Lưu lại ý kiến đóng góp - phản hồi vào ô dưới đây:

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s